Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quách giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa ( và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ ( với người quen cũ )…Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi. Và hình ảnh đó thật đến nổi, tôi bất giác lùi lại vì một đức đang nhìn trân trối vào mình, ngạo nghễ…

Vũng Tàu đổ mưa rỉ rả, những vệt nước trong veo đọng trên bợp cửa, nhạt nhòa và ẩm ướt.

Mùa mưa thổn thức kéo theo những hệ lụy dài, như buồn chán, hằn học, như một ngày đi biển về không và tiếng thở dài của cha. Chúng tôi là dân biển, cộc cằn và nổi loạn – nó cũng có một phần lớn đúng – đối với cha tôi. Những khái niệm vợ chồng luôn được đặt trong vòng tròn khuôn phép, về người vợ, người chồng, và những đứa con.

Chúng tôi làm việc để sống, chứ không sống để yêu thương. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ là quãng thời gian trằn trọc và lo lắng, về những năm tháng Đại học trong mơ, về quãng thời gian mệt nhọc dày vò mẹ tôi trong những ngày trở trời bệnh tái phát.

Đó là một buổi chiều ở Lặng, thật ra cũng chẳng phải một địa điểm lí tưởng gì, tôi gọi nhà mình là Lặng, vì những đêm khó ngủ vùi mình trong chăn, tôi nếm vị mặn chát của nước mắt mình mà lòng bớt đau đáu, bớt xót xa. Khoảng cách địa lí vỏn vẹn ba bước chân người, tưởng chừng lại xa đến ngàn dặm giữa không trung, giữa tôi…và mẹ. Tôi úp mặt vào gối mình mà khóc, nức nở, trằn trọc, những tiếng rỉ rên đứt quãng giữa không trung, mập mờ và lí nhí. Như cái cách mẹ khóc hai giờ trước, như cái cách mẹ cười mấy phút sau, méo mó bất chợt.

Cánh đồng bất tận

Khóc vì đọc sách là một chuyện khá buồn cười – đối với tôi. Lí do cũng khá đơn giản, khóc vì đau còn phải nín nhịn, tư cách gì để một người khóc vì những cảm xúc bâng quơ? Tôi khóc khi đọc “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư? Hay tôi đang cười cho những con người lầm lũi một thời, à không, là lầm lỗi cả một đời? Khóc cho những nỉ non bất lực, khóc cho những tâm sự dài ngoằn nghèo mà ZingMe không thể viết hết, Facebook không thể nói ra. Và chính vì những điều buồn – cười – có – thực đó, tôi bước vào thế giới hiện thực, tách ra khỏi mớ bòng bong hỗn độn, tách ra khỏi khái niệm của cuộc sống, của những người vợ, người con.

Rồi tôi khóc khi thấy Điền trong nước mắt, tôi khóc khi thấy nhân vật kể chuyện dưới màn mưa. Đó là một viễn tưởng hãi hùng, trời đất ửng đỏ, cánh đồng xác xơ và hôi tanh mùi cỏ úa, của phèn chua và những con sông đã cạn. Tôi thấy người cha trong câu chuyện, đôi mắt quắc lên một vệt dài như đau thương, làn da đỏ đồng và rắn chắc, ánh nhìn ông lạnh lẽo, sắc lẹm – như cha tôi. À không, khác hẳn chứ, cha tôi nhìn đời khi đi qua những cảng rộng thênh thang, khi chu kì 28 ngày 1 tháng trở về nhà, thấy trời sao xanh hơn, thấy ngày sao lại ngắn hơn như vậy. Còn cha của nhân vật tôi, ông dường như không nhìn đời, ông nhìn con người, bằng một cách khinh ghét lạ kì, bằng những tủi hổ và đớn đau ở những cánh đồng bất tận trước. Và đất liền chẳng còn bám víu lấy chân ông, và những ao ước của tuổi thơ hai đứa trẻ – con ông, không thể khiến ông yêu thật lòng thêm một giây nào nữa: “Có vẻ khó tin, khi một người nghĩ rằng, chỉ cần mình một lòng yêu thương, gắng hết sự kiếm sống nhọc nhằn thì sẽ được đền đáp xứng đáng. Có vẻ buồn cười…và cha tuột xuống đất, run rẩy”. Là run rẩy vì tức giận, hay run rẩy vì biết thứ niềm tin ảo ảnh trong ta đang dần dần nứt vụn?

Chúng tôi sống trong một căn nhà nhỏ ở miền biển Long Hải, kế một cái hồ nước mặn. Đáy hồ là toàn thể những thứ có thể vứt vào, rác rưởi, đồ ăn, giấy vụn… Và cũng đôi lần, chúng tôi ném tình yêu của mình xuống đó, bằng những vảnh vỡ vụn trong chén cơm gia đình, bằng cây roi đã gãy đôi vì những lần va chạm vô tình vào da thịt. Chúng tôi lặng lẽ và vô tình, mỗi người đều có chiếc mặt nạ riêng, một vở diễn riêng. Cha tôi diễn vở kịch của người đời, một người chồng tốt và biết yêu thương. Mẹ tôi diễn vở kịch của gia đình, một người vợ nhẫn nhịn và chiều chồng, chỉ là nụ cười méo mó không tự nhiên, chỉ là nước mắt chảy vào tim đến nỗi nó chỉ muốn vỡ òa và ngừng bặt. Còn mỗi tôi, ừm, tôi diễn vở kịch của chính tôi, là những đêm khó ngủ nghĩ về cha, về mẹ, về cuộc sống mưu sinh đang biến nụ cười gia đình thành chiến trường lừa lọc. Là tôi đang dần bức bách chính mình, vì tiếng khóc không thể bật ra, vì lo lắng rằng một mai mình sẽ giống mẹ, hay lấy phải một người chồng như mẹ chẳng hạn.

Còn gia đình trong “Cánh đông bất tận” (tôi xin phép không kể người mẹ trong này). “Căn nhà” của họ là một cái xuồng nhỏ tồi tàn, “không có gì để lấy”, họ sống trong đó, nghỉ ngơi trong đó, những đàn vịt và những người bạn được so sánh với nhau, chênh lệch, nhưng chênh lệch một cách lạ kì: Những con vịt hơn hẳn con người. Hai đứa trẻ nói chuyện với nhau trong câm lặng, giao tiếp đặc biệt, suy nghĩ đặc biệt, có lẽ môi trường sống hay những biến cố khó khăn đã thay đổi rất nhiều trong cuộc đời hai con người. Họ muốn rũ bỏ, bỏ tất, bỏ những bữa cơm mẹ nấu, bỏ những lần mẹ vuốt tóc thằng Điền bắt chí, bỏ cả mái nhà vùng vẫy giữa biển lửa đỏ rực, sụp đổ trong sự kiêu hãnh của người cha…hay sự mất mát của người đàn ông bị chính niềm tin của mình phản bội.

Họ đi qua những cánh đồng bất tận, những cánh đồng thơm mùi cỏ, những cánh đồng sực nức mùi chua của những bãi phèn…Họ gặp nhiều người, ở nhiều nơi, có khi, họ vô tình lạc vào vòng tròn của hi vọng, nhưng đáng tiếc, điều đó chỉ làm họ quay vòng, sau đó trở lại vạch xuất phát với những nỗi đau mới, những tình yêu vụn vỡ mới.

Người cha, cũng chính vì thứ niềm tin một lần bị phản bội, đã vô tình bỏ mặc lấy những niềm tin nhỏ bé khác. Ông vùi lấp nó, ông chà đạp nó bằng cả những uất hận và xót xa. Trong câu chuyện này, tôi vừa giận vừa xót cho ông. Giận vì cách ông sống với quá khứ mà bỏ mặc tương lai, thương vì qua bao nỗi thăng trầm khó nhọc, tình yêu ông vẫn đầy, vẫn đẹp, chỉ là nó không bộc lộ ra theo một cách bình thường. Ông yêu thằng Điền, ông thương nhân vật “tôi”, chỉ là nỗi ám ảnh về máu mủ ruột thịt của người đàn bà phụ bạc cứ đeo ông dai dẳng, đến nỗi ông nhìn nhân vật “tôi” bằng một ánh mắt khác, ghen ghét, khinh bỉ.

Thằng Điền – con người nhìn những đụng chạm xác thịt thành điều đáng khinh bỉ nhất trần đời. Những nỗi ám ảnh, những cơn ác mộng triền miên, nó cứ hiện về, cứ viên mãi, trở thành thứ thuốc độc ngấm dần vào tâm can đứa trẻ. Và rồi nó gặp “chị” – nó thương chị bằng chính thứ ảo mộng rằng đó là mẹ nó. Đẹp, hay cười. Nó chìm mình vào bức tranh hỗn tạp của máu mủ, của xác thịt, tâm hồn.

Và nhân vật “tôi”, chẳng phải đã quên đi người cha từng yêu thương gia đình hết mực, chẳng phải trong tiếng nấc tủi hổ nghẹn ngào, cô gọi tên thằng Điền, gọi bằng một niềm đau đáu xót xa, gọi bằng những niềm tin đã vụn vỡ điêu hoang. Nguyễn Ngọc Tư miêu tả tâm trạng nhân vật, vừa buồn cười vừa cay đắng, buồn cười vì đứa con gái luôn vui mừng khi thấy cha trở về mệt nhọc sau khi bảo vệ “gia đình”, cay đắng là vì trong nụ cười có những giọt nước mắt, nỉ non, uất nghẹn. Há chẳng phải, kết cục cũng chỉ có bi thảm thôi sao?

Tôi xin nói chút điều về người mẹ. Như phụ nữ với nhau. Phải, như phụ nữ, chúng ta đều mong được khoác lên mình áo tơ gấm lụa, muốn được rạng rỡ tươi cười trước phố đông. Nhưng, suy cho cùng, chẳng phải người phụ nữ làm đẹp cũng chỉ để đàn ông ngắm nhìn hay sao. Bà mẹ lầm lỡ, những đứa con lầm lạc, bà ta làm đẹp cho bản thân, cũng là muốn được ân ái thiết tha cùng người đàn ông lênh đênh sông nước. Bà ta đẹp, áo lụa đẹp, hai cái đẹp sắc sảo và tươi mới, duy chỉ có những hậu quả đánh đổi lấy, là to lớn vô cùng.

Tôi đọc giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư, thấm nhuần, hoang hoải, không ướt át như những buồi chiều mưa rả ríc Vũng Tàu, không hoang khô như những cách đồng bất tận tác giả trải qua. Chỉ là chân thật, thật đến não lòng, đến đắng cay. Tôi vô tình yêu cái giọng văn quá chất “hiện thực” ấy, rồi bất chợt lòng hồ hởi đơn sơ, vì biết còn có nhiều gia đình bất hạnh hơn, còn có nhiều những vảnh vỡ trái tim đang thổn thức vì không thể chắp vá. Tôi biết mình chẳng còn bất hạnh, tôi biết vở diễn của chính mình là do chính mình soạn ra, tự mình bức bách mình. Còn những cánh đồng, những con vịt…những nỗi đau tác giả vẽ nên, không thể hiểu hết, không thể thấm hết. Như cái cách bạn đi trên một con đường dài, bạn không thể đếm hết bao nhiêu cái cây và bao nhiêu mái nhà, nhưng bạn nhớ rõ những cái đặc biệt, những gì gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn. Nỗi đau nào rồi cũng sẽ qua, nhưng những nỗi thống khổ triền miên luôn kéo ta vào mộng mị của thực tại, những cái kết lập lờ lửng chửng, những con người vẫn còn chập chững bước đi khi đôi chân còn non yếu…Bạn có muốn hiểu hết, bạn có muốn một lần trải nghiệm, để bạn yêu hơn, để bạn sống hơn, như tác giả, như tôi.

Đọc “Cánh đồng bất tận”, để rồi vô tình yêu cái chất văn hiện thực của Nguyễn Ngọc Tư, để rồi hiểu hơn về những mảnh đời miền Tây, một con đĩ, một người vợ, người chồng, hay là những người con có tâm hồn tưởng chừng như nhỏ bé. Một câu chuyện không cảm động, tôi dám chắc, nhưng nó “động” tới cái tâm ta, tới lòng bao dung đối với những người cùng huyết mạch. Hãy đọc, và cảm nhận!

— Tiểu Mễ

Tên sách: Cánh đồng bất tận

Tác giả: Nguyễn Ngọc Tư

Nhà xuất bản: Nxb Trẻ

 

Sách và Tôi - Cánh đồng bất tậnhttp://1book.vn/wp-content/uploads/Canh_ng_bt_tn.jpghttp://1book.vn/wp-content/uploads/Canh_ng_bt_tn-300x300.jpg1book.vnCảm nhận sáchKhông gian sáchcảm nhận sách,canh dong bat tan,nguyễn ngọc tư,sách và tôi,tản vănNhững cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quách giờ đang vất vơ kiếm...Mỗi quyển sách một chân trời!